Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

MƯỜI BÀI THƠ VŨ QUẦN PHƯƠNG

(Nhà thơ Vũ Quần Phương)

Nhà thơ Vũ Quần Phương tên thật là Vũ Ngọc Chúc, sinh năm 1940. Quê cha ỡ Hải Hậu, Nam Định. Ông sinh ở Từ Liêm, Hà Nội quê mẹ.
Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, 2007
Các tập thơ: Cỏ mùa xuân (1966), Hoa trong cây (1977), Những điều cùng đến (1983), Đợi (1988), Vầng trăng trong xe bò (1988), Vết thời gian (1996), Quên chữ... quên câu (2000), Giấy mênh mông trắng (2003), Chỗ ấy sóng... (2008).


Đầu thu năm 2007, tôi theo học Khóa 1, Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du. Thầy Vũ Quần Phương là Hiệu phó. Thầy vui mừng khi tôi ra nhập học. Số là, khi ấy tôi đã nhãn mác danh xưng tầm phào nhà thơ Quốc doanh. Thực ra, từ những năm trước đó khá xa, không phải ai trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đều có mục đích vào Hội giống nhau. Không thiếu những danh cầu. Vì thế cái ngôi "Đền" mới ngày càng nhiễu và đâu ít những chuyện cười ra nước mắt. Ngay sáng Khai giảng, thầy tặng tôi tập "Giấy mênh mông trắng" với dòng lưu tặng rất yêu quý. Những năm tôi làm việc ở Hội VHNT tỉnh Vĩnh Phú (cũ), tôi đã được biết đến thầy. Thầy là bạn thân của Họa sĩ - Nhà thơ Hoàng Hữu, một người tài hoa coi tôi như em. Không biết có phải vì thế nhà thơ Vũ Quần Phương cư xử với tôi như người em của thầy, cũng như Hoàng Hữu. Mà cũng có thể, cái lần giao lưu thơ ca với Khoa viết văn Trường Đại học Văn hóa, khi anh Văn Giá giới thiệu tôi đọc thơ của tôi, tôi cứ nhất quyết đọc bài thơ "Dân ca" của thầy, vì tôi thích ("Dân ca" chính là một trong những bài thơ dẫn đường cho ý thức tôi) trước hàng trăm cử tọa. Cũng có thể không phải. Tôi đoán rằng, thầy yêu quý những nhà thơ biết trọng sự học, trọng lễ, không cậy có tí chữ đã to kèn, hễ mở miệng là hung hăng trời bằng đít chén. Mà thôi, những chuyện về thầy như tôi biết, tôi sẽ hầu chuyện bạn đọc trong một dịp khác, những dịp có thể.
Tôi chong đèn lên trang 10 bài thơ mới viết thời gian gần đây của thầy, vì có cả sự ngâm ngùi trước co rút thời gian thì thầm cùng mưa nắng cỏ cây, có cả sự ưu tư trải nghiệm,chìm sâu mà thầy chiêm nghiệm. Dù chỉ làm học trò của thầy chừng 3 tháng, tôi bỗng nhận ra rằng, những nghệ sĩ bậc thầy thường bặt thiệp và rất khiêm nhường.
Trẻ con đi học
(Ảnh sưu tầm)
Cặp sách trên tay
cát bụi mịt mù
các em đi vô tư trên con đường vô tận

Ngang qua những xóm nghèo
ngang qua sườn núi vắng
qua thành phố đông người
qua những ngọn đèn khuya lầm lụi
tiếng thở dài, bờ lau gió thổi
các em đi

Từ tay mẹ nâng niu
từ quang gánh giần sàng bếp núc
các em bước ra làng ra nước
cuốn vở trên tay
các em đi thành nhịp địa cầu
đường quê ta còn đầy cát bụi
bàn chân trần lấm lem

Các em bước hồn nhiên
hồn nhiên đu qua sông đến lớp
tháng năm lũ, tháng mười hai lạnh buốt
cơm chưa no, co ro cật rét
các em đi

Bóng các em lô nhô
như dòng chữ buổi đầu đến lớp
tôi là ông vỡ lòng bạc tóc
đứng bên đường, đánh vần, nhẩm đọc
đuổi theo từng bước đi

                                    Khai giảng năm 2016


những mái nhà

Mái rạ ẩm sau mưa xanh tia khói bếp
vẫn nuôi tôi những cơn đói tâm hồn
Ký ức vốn phàm ăn. Năm tháng
như gió rừng xao xác từng cơn
(Ảnh sưu tầm)


Những giấc mơ xa xôi sinh thành trong giấc ngủ
giấc thức rồi, mơ vẫn dắt người đi
mái nhà che giấc mơ, giấc mơ giữ căn nhà ở lại
mắt ngẩng nhìn mắt lợp mái sao khuya

Lợp một bóng cây trưa râm mát
một bầu trời tiếng hát tha phương
một mái bạt che lều gió thốc
một khóm lau trắng bụi đường trường

Một trơ trọi mình và năm tháng
năm tháng lợp nên nhà
phiêu bạt hóa quê hương


Hồ Tây

Lặng lẽ nằm soi bao đổi thay
Thản nhiên trong biếc tấm gương này
Chút sương u uẩn từ xưa ấy
Trộn lẫn lòng ta với khói mây


(Ảnh sưu tầm)









nhà thơ ơi

Nước mắt mẹ rơi không có nhịp
Thơ anh nhiều âm vận ngân nga
Xóm núi hẻo thất thanh trong lũ
Anh bận tìm tên một loài hoa

Thơ cậy bản năng, thơ khoe vô thức
Mẹ lo nghĩ suốt đêm trồng thứ rau gì
Để sống nổi qua mùa giáp hạt
Ruộng không còn, sông xám phù sa
Thơ anh nói những rồng những bể
Người là bạn, người là đồng chí
Mẹ ngửa mặt kêu trời thân tự thương thân
Mẹ đãi hạt cơm, hết cơm thì đãi sạn
Thơ đang mùa hoa hậu tung hô
Cô gái ấy khoe đùi thì anh khoe bút
Người mất đất kêu trời thơ ơi có nghe?
(Ảnh sưu tầm)


Từng có ông nhà thơ
Không dám nói đến cây khi con người còn khổ (1)
Sen thơm ngát đừng quên bùn sen nhé
Sen trắng sen hồng bùn vẫn nuôi sen
Thơ có đổi mầu nào thì thương con vẫn mẹ
Căn nhà mẹ âm thầm tia khói nhỏ
Hầm bí mật che anh tay mẹ từng đào
Mẹ thầm lặng nuôi anh từ thịt xương đời mẹ
Anh nuôi mẹ ầm ào bằng trắc những chiêm bao.


(1)Bertolt Brecht (1898 - 1956), nhà thơ cộng sản Đức.


Sợ
(Ảnh sưu tầm)

Từ coi trời bằng vung đến coi vung bằng trời
Người ta cứ dần dà mà biết sợ
Sợ thánh, sợ ma rồi đến sợ soong nồi
Ba hòn gạch lấm lem cũng thành vua - vua Bếp

Đầu, sợ mũ trên đầu. Chân, sợ giày sợ dép
Dưới dép sợ Thổ thần, trên mũ sợ Hoàng thiên
Dân sợ quan tham, quan sợ dân điên
Đám cưới chuột sợ mèo vào chúc tụng

Ngày sáng sợ đêm đen
Kẻ có mắt sợ ông mù phán bảo
Sợ thần cây đa, sợ ma cây gạo
Sợ loăng quăng cả cú cáo cây đề

Gi gỉ gì gi, cái gì cũng sợ
Không vay mà thành sợ, có sợ mới thành dân
Kẻ nín bật lời, kẻ nói thành câm
Nhưng sợ nhất là thằng không biết sợ.



nhớ mưa ngâu

Rằm tháng bảy
mưa ngâu
nắng đã lâu, một ngày đẫm mát
Đài báo gọi đợt mưa áp thấp
ít ai còn nhắc tới mưa ngâu
(Ảnh sưu tầm)Thêm chú thích




Hơi mát mưa nhớ vị thơm trầu
bà bỏm bẻm nhìn mưa, đun bếp
khói rạ bay quẩn trên mái ướt
cây muỗm mơ màng trong khói mưa

Tất cả đã ra đi
mái rạ, bếp rơm, mùi nhang đen lẩn khuất
Tuổi thơ tôi không còn ai nhắc
tuổi thơ tôi chôn ở ngoài đồng
(với ông bà mẹ cha cô bác)
Làng tôi đã thành phường, chung cư, lầu gác
tôi thành ông tóc bạc
đi giữa làng
mưa
nhớ mưa ngâu.


Một cơn vắng ý thức(1)

Ý thức đi đâu mà vắng nhà
Quay lại nhìn, ta không thấy ta
Thì vẫn nói năng, đi lại. Vẫn...
Vẫn...vẫn...mà như chưa sống qua
(Ảnh sưu tầm)

Không biết bấy giờ ta ở đâu
Nước trong sông, nước chảy qua cầu
Ta như nước chảy mà không chảy
Không nước, không dòng, không nông sâu

Ta sống mà ta ngoài cõi sống
Không trong năm tháng, không trong đời
Tim đập, máu dồn, lồng ngực thở
Chỉ ta không biết có ta thôi

Chứ ở mắt người, ta vẫn có
Có mà không nhớ cũng thành không
Mỗi người là một cơn đang nhớ
Cơn nhớ chen nhau ngoài phố đông

Cơn nhớ tắt dòng mình cũng tắt
Thịt xương thân xác hóa bơ vơ
Một phen tiền trạm vào u uẩn
Sang phía bờ kia của cõi mơ

                                        10 - 9 - 2016

(1) Bác sĩ chẩn đoán cơn vắng ý thức do thiếu máu não cục bộ thoáng qua có hồi phục.

sớm nay thu

(Ảnh sưu tầm)



Vừa bước ra đường cơn lạnh sớm
ào đến nâng mình lên chơi vơi
Ta cảm vị thu nghe ký ức
Thênh thênh trong suốt đến chân trời

Thời tiết luân hồi mà vẫn lạ
Gió thu đến thức những mùa thu
Lạnh nóng ngấm vào xương thịt cũ
Sáng nay bừng dậy đón sang mùa


Thân như bình chứa hương và vị
Của trời của sóng của bao la
Người quen quay lại là cơn gió
Ta sững lòng ngây với tít xa

                                            16 - 9 - 2016


thức trong đêm

Ta ngủ đêm qua biển ngủ đâu
Thức từ mặt sóng đến lòng sâu
Bờ cát tối qua muôn dấu bước
Sáng nguyên khôi như buổi bắt đầu


(Ảnh sưu tầm)


Ta ngủ đêm qua cây lả ngọn
Suốt đêm nghe lá chuyển nôn nao
Nghe nhựa trong thân lên ngọn lá
Nghe đất thầm chuyện với trời cao

Ta ngủ dã tràng đêm vẫn thức
Se từng viên cát gửi mênh mông
Mênh mông thao thức chòm sao lạ
Tự thủa hồng hoang đã nhớ nhung

Ta ngủ toàn đêm đâu có ngủ
Con trùng bé lắm suốt đêm kêu
Nghe từ sâu thẳm trong ta nữa
Mộng thức và tim vẫn đập đều

                                Vũng Tàu, 31 - 10 - 2016


Tạ từ cây

Bóng mát bị đốn rồi
hàng thế kỷ hồ đầm bờ lau bãi sậy
mới thành cây
mới thành tiếng hót
bóng mát rợp vai người,
em bé tuổi nằm nôi thành cụ già bạc tóc
cây mới được thành cây
ngã xuống sớm mai này
(Ảnh sưu tầm)

Đoàn tụ nào chẳng khởi đầu bằng những chia tay
chia tay cây, chia tay quãng đời ta vừa sống
chia tay hồn vía của rừng xa
để nơi đây thành những nhà ga
cho người đoàn tụ
cho người bay với gió
chân người đo chân mây

Cây vĩnh biệt đời cây
cây bắt đầu cuộc đời của gỗ
ta bịn rịn cùng cây. Nỗi nhớ
thành cuộc đời những chuyến xe đi,
có phút giây không dễ vượt qua
nhưng đời cần đi tới
chỗ ấy xưa là rừng, chờn vờn cọp đói
voi phục vẫy đuôi
người đã phải xa rừng thương voi nhớ hổ
để rừng thành phố
rồi phố rợp tàn cây

Nay ta từ tạ cây
hạnh phúc người sẽ như rừng trở lại
Rừng xanh tràn mặt đất chân mây
nhưng chắc gì mắt ta được thấy
này cu bé trong xe nôi mẹ đẩy
cu đến đây chào cây thay ta.

                                18 - 12 - 2016


Nguồn: Tạp chí Thơ - số 22, 2016

Đọc tiếp

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2016

Tây tiến và những bài thơ khắc tạc vào năm tháng của Quang Dũng



Nhà thơ Quang Dũng
(1921 - 1988)

Ông tên thật là Bùi Đình Dậu (tức Diệm) người làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây (Hà tây), nay là Hà Nội. Tham gia cách mạng từ 19 - 8 - 1945. Cuối mùa xuân 1947, ông ra nhập đoàn quân Tây Tiến với cấp bậc đại đội trưởng. Ngay sau đó chưa đầy một năm, 1948, tại Phù Lưu Chanh, ông viết bài thơ Tây tiến bất hủ. Và, cũng chỉ thời gian sau không lâu, những anh chính trị viên "răng đen mắt toét gọi lựu đạn là nựu đạn" trường kỳ khảng định  cái anh đại đột trưởng - nhà thơ viết nên những Tây tiến, Lính râu ria, Mắt người Sơn Tây... đích thị cần lên án, cần gột rửa cho cái tư tưởng tiểu tư sản nó... tiệt nọc. Thôi, cái quãng lịch sử văn chương nhớp nhúa này biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Ông chết tại Bện viện E, Hà Nội đêm 13 tháng 10 năm 1988, thọ 67 tuổi. Xin trích nguyên văn đôi dòng trong "Lời giới thiệu" Tuyển tập Quang Dũng của Nhà thơ Trần Lê Văn - một (trong những) người bạn thân thiết của ông tả về mấy ngày cuối cùng của người viết nên Tây tiến bất tử và nhiều bài thơ đã tạc khắc vào năm tháng:

"Những ngày nằm ở Bệnh viện E, anh trầm lặng không cười, không nói. Thế mà có hôm đến thăm anh, tôi thấy anh:
Cười như thủa hài nhi
Bắt đầu được "mụ dạy"...

Rồi từ đấy anh hay cười, cười không thành tiếng, thu nhận và thưởng ngoạn sự đầm ấm thương yêu của những người ở gần, và những người ở xa, rất xa..."


(
Hoàng Quý)
 
Quang Dũng


Tây tiến
Ảnh sưu tầm
Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Đọc tiếp

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016

Trong miền thơ Hồ Dzếnh

Hồ Dzếnh
Nhà thơ Hồ Dzếnh
(1916 - 1991)

"Tâm hồn của Hồ Dzếnh như một hạt "lệ ngọc" được kết tinh từ cuộc đời lam lũ của cha, của mẹ, của bản thân ông... Là một thi sĩ tài hoa nhưng lại hòa làm một với những con người nghèo khổ dưới đáy xã hội, yêu thương con người với tất cả tấm lòng, khiêm nhường như " bông lúa chín cúi thấp đầu xuống", để cho trái tim được cười khóc hồn nhiên như chính nó đang là thế... Mặc dù không phải là một nhà cách tân như Hàn Mặc Tử hay Bích khê, không phải là nhà thơ giàu triết lí như Huy Cận hay Chế Lan Viên, cũng không phải là người cầm cờ như Tố Hữu, vậy mà Hồ Dzếnh, chỉ bằng  một thứ thơ chứa chan tình cảm, đã thực sự chinh phục được trái tim của đông đảo bạn đọc..."
( Trích: Kiều Văn - Hồ Dzếnh thơ, NXB Đồng Nai, 1997)

Nước chảy chân cầu
Ảnh sưu tầm
Quê em xa thắm màu mây gió
Buồn vút không gian, mất định kỳ!
Em có mơ về năm tháng cũ
Âm thầm, nghe tiếc phút giây đi!

Đọc tiếp

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

Đọc lại hai bài thơ của Nguyễn Đình Chiến

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến
(24/8/1952 - 30/1/2014)


Vào tảng sáng đêm 17 tháng 2 năm 1979 "giặc đồng chí" đã nổ súng vào chúng ta trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung. Những tên đồng chí mạo danh tự lột chiếc mặt nạ bồi vẽ công phu, sặc sỡ. Những tháng năm đau thương ấy chúng ta chưa quên, không quên, không bao giờ được quên! Bài thơ "Gặp lại các em" và "Hà Giang" chỉ là hai trong nhiều bài thơ Nguyễn Đình Chiến viết trên đường hành quân dọc cuộc chiến giữ nước khốc liệt và dữ dội. Cùng đọc lại thơ của ông, hầu khắc cốt ghi xương kẻ cắn trộm, cướp đất ta, gieo rắc chồng chất tội ác với đồng bào ta, để nhớ lấy, để cảnh giác.
Hoàng Quý

  
Gặp lại các em


(Sông Kỳ Cùng - Ảnh sưu tầm)
Các em nằm yên nghỉ bên sông
Những cánh hoa hồi phủ thơm mặt đất
Anh về thăm mà khôn cầm nước mắt
Trời biên cương xanh ngắt
Mây trắng bồi hồi đỉnh chốt người đi

Đọc tiếp

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

THƠ Y PHƯƠNG

Nhà thơ Y Phương

Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước. Sinh ngày 24 - 12 - 1948 tại làng Hiếu Lễ, Trùng Khánh, Cao Bằng.
Năm 1968 ông phục vụ trong quân đội. Sau chiến tranh ông làm việc tại Sở Văn hóa Thông tin Cao Bằng. Năm 2002, ông chuyển về Hà Nội, làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện tại ông và gia đình sống tại Hà Nội.
Những tập thơ đã in: Người núi Hoa (1982), Tiếng hát tháng Giêng (1986), Lửa hồng một góc (1987), Lời chúc (1991), Đàn then (1996), Ngược gió (2006), Những bài hát cho Sa (2011). Hai trường ca của ông gồm: Chín tháng  và Đò trăng. Với trường ca Chín tháng, ông đoạt Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Bài thơ Nói với con của ông được đưa vào Giáo khoa thư. Ngoài Gỉai thưởng Nhà nước, ông còn đoạt nhiều Giải thưởng về Văn học Nghệ thuật khác của Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Hội Nhà văn.


Năm Y Phương về làm việc tại Hà Nội (2002) cũng là năm tôi lần đầu gặp ông. Hôm ấy, đang loay hoay hỏi thăm phòng làm việc của Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn Hà Đình Cẩn, một người vạm vỡ có đôi mắt "biết nói" ân cần chỉ dẫn cho tôi căn phòng trong góc của Tổng biên tập. Thấy tôi quay ra, ông bảo, vào chờ ở chỗ mình, chắc anh Cẩn về ngay thôi. Ông và gia đình khi ấy tạm ở một phòng nhỏ thuộc cơ quan Tạp chí Nhà văn 65 đường Nguyễn Du. Thế là chúng tôi chuyện trò. Cái cách tiếp xúc và sự ân cần, giản dị của ông làm cho tôi không e ngại. Khi tôi thưa tên, ông à lên vui vẻ, rồi đọc to: "No xôi no thịt thì cứ chơi liền liền đi/ Trên đầu lắc lư con ma rượu rồi, có đứa trốn ra nương, hai đứa khéo mà thành một đứa". Thơ tôi nào có ra gì mà ông thuộc. Ông bảo, ra đây là Hoàng Quý đấy, chỉ một "Ngẫu hứng qua mường" em xứng đáng đại diện cho cả một cộng đồng tộc người. Được khen thì tất nhiên ai chả thích. Tuy nhiên, đánh giá thẳng băng và có tính khích lệ của ông làm tôi bối rối. Kể từ lần gặp gỡ ấy, đến giờ, tôi được ông coi như người em. Nhiều năm làm sưu tầm Văn hóa Dân gian và lang thang vùng cao, tôi hiểu rằng, có được tình cảm ấy không vì chữ nghĩa.
Thơ Y Phương thấm đẫm dân ca Tày, đời sống Tày, bền chắc như đá núi Cao Bằng, nhẹ nhõm như mây sáng trên sông Hiến, sông Bằng và cường tráng không gian biên viễn. Nhiều bài thơ của ông có thể hát lên, có thể ngân nga. Ở nhịp, ở điệu, ở thi ảnh, thi hình,  ở cách nói, ở tình... váng vất làn sli, điệu lượn. Lối nói ví của người miền cao khi biến ảo trong thơ Y Phương luôn luôn gây ngạc nhiên, hưng phấn và thích thú. Cùng với Nông Quốc Chấn, Y Phương mang đến cho cánh đồng thơ Việt sự rực rỡ, phong nhiêu.

Trân trọng giới thiệu một chùm thơ Y Phương trong triền rừng thơ đẹp đẽ của ông! 
Hoàng Quý


     
Mùa hoa

Ảnh sưu tầm

Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi.

Đọc tiếp

Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

ĐỌC LẠI 3 BÀI THƠ CỦA NGUYỄN DUY

Nhà thơ Nguyễn Duy

 Vừa lên trang "Bài thơ không đặt tên" chừng vài giờ thì Nb điện thoại. Sinh nhật Trung đoàn năm nay to lắm, cũng không thấy mi về. Hôm nay 22 - 12 mi làm gì? Tôi bảo, như mọi khi, ở nhà. Hắn có vẻ gắt. Điên à? Tôi bảo chả biết bao giờ thì điên. Hắn dồn, thế làm gì? Tôi bảo, chả làm gì. Buồn, tự dưng buồn rã rượi. Mà cũng chả biết buồn vì cớ gì. Làm gì, làm gì hả Nb? Bỗng nhớ những câu thơ viết ra hơn 20 năm sau cuộc chiến: "Chiến tranh qua đi cái nhớ, cái quên/ Cái nhớ đã làm duyên, cái quên không cả thẹn/ Cái nhớ, cái quên cô độc trên đời/ Như không nói ra thì không tiện, thế thôi". Rồi lại nhớ câu thơ Nguyễn Duy: "Nghĩ cho cùng/ Mọi cuộc chiến tranh/ Phe nào thắng thì nhân dân đều bại..."
Hoàng Quý 

Nguyễn Duy


Nghe tắc kè kêu trong thành phố

Ảnh sưu tầm

Tắc kè...
tắc kè...
tôi giật mình
nghe
trên cành me góc đường Công Lý cũ
cái âm thanh của rừng lạc về thành phố
con tắc kè
sao mày ở đây?

Sáng ra nhìn soi mói mỗi cành cây
chả thấy con tắc kè đâu cả
khi chùm đèn thuỷ ngân xanh lên trong vòm lá
tắc kè kêu như tiếng vọng về
Đọc tiếp

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

THƠ VĂN CAO

Văn Cao
(1923 - 1995)

Nhạc sĩ - Họa sĩ - Nhà thơ Văn Cao sinh tại Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng. Quê quán: Thôn Yên Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Về âm nhạc của Văn Cao, chỉ xin trích lại những dòng này của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: "Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư".
"Lá" là tập thơ duy nhất của Văn Cao. "Lá" là tiếng ông, gửi gắm ông, nhắn nhủ ông dài lâu tới sau xa từ những thấy và khuất lấp, cả đắm mê và đắng cay, cả mong mỏi cùng những bất trắc ông chiêm ngiệm và nếm trải trong phần lớn cuộc đời mình. Ông vạch mặt chỉ tên những hiểm họa ngay trong hàng ngũ những người cách mạng. Sự trung thực của ông, bản lĩnh của ông, những tiên báo của ông đều mang thông điệp từ lương tri trong sạch. Đau xót thay, những cảnh báo của Văn Cao không được lắng nghe, thậm chí bị bóp méo, nó còn gây cho ông bao nhiêu nguy nan, những đe dọa rất khó gọi rạch ròi, và, những hiểm họa rập rình quanh ông trên một phần tư thế kỉ. Thơ Văn Cao cũng đồng thời là cuộc độc thoại để đối thoại cùng con người về thân phận, những nghịch lý, những vết bẩn làm ô uế và xơ xước những khoảnh khắc đáng lẽ rất đáng tự hào của lịch sử. Về nghệ thuật: Ông thuộc những nhà thơ tiên phong bước thẳng từ mùa cổ điển vào cách tân và hiện đại. Ngôn nghĩa ẩn dụ và tượng trưng tạo nên thi pháp độc đáo Văn Cao. Thơ ông xác lập một bút pháp, cá tính, sức nặng chỉ có ở Văn Cao. Ông là một trong không nhiều những nhà thơ tiên phong khơi mạch cho dòng chảy cách tân thơ Việt Nam hiện đại.
Đọc thơ Văn Cao cũng có nghĩa mở toang cánh cửa vào một phần cần đối diện, một phần của sự thật ngày càng đòi hỏi phải được minh bạch.
Hoàng Quý 

Anh có nghe thấy không

             (Gửi một nhà thơ xưa đã nổi tiếng)

Ảnh sưu tầm

Cửa đóng lại từ chín giờ
Không một cuốn sách chờ đợi
Dù những ngôi sao đang nở trên trời
Dù đêm mùa xuân bắt đầu trở lại
Đọc tiếp

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

THƠ HỮU LOAN

Nhà thơ Hữu Loan
(1916 - 2010)

Nhà thơ Hữu Loan, tên đầy đủ là Nguyên Hữu Loan, sinh năm 1916 (có tài liệu ghi 1914) tại Vân Hoàn, Nga Lĩnh, Nga sơn, Thanh Hóa.
Tham gia cách mạng năm 1940. Trước đó ông đã tốt nghiệp tú tài và làm nghề dạy học một thời gian. Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông từng là Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga sơn, Thanh Hóa. Sau Cách mạng Tháng 8, ông là Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp ông ra nhập quân đội, phục vụ tại Đại đoàn 304. Sau 1954 ông làm việc cho Báo Văn nghệ. Những năm 1956 - 1957 ông tham gia Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Khi phong trào Nhân Văn Giai Phảm bị dập tắt, ông bỏ về quê, làng Nga Sơn, cày ruộng, đánh cá, thồ đá kiếm sống độ nhật. Ông mất ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại quê hương ông.


Những bài viết về Nhà thơ và Thơ Hữu Loan đến nay rất nhiều, nhưng hầu hết chỉ xoáy vào cuộc đời đặc biệt, bất khuất và huyền thoại Hữu Loan. Một số bài viết về Thơ Hữu Loan lại chủ yếu xoay quanh bài thơ tình rất đẹp "Màu tím hoa sim", hoặc sâu hơn, nhiều đả động đến bút pháp, đến nghề thơ hơn và gợi tính anh hùng ca là "Đèo cả". Nói chung, những trang viết của các nhà nghiên cứu - phê bình có tính học thuật toàn diện về thơ Hữu Loan chưa có bài nào ghi được dấu son.
Thơ Hữu Loan không nhiều. Những biến cố chằng chịt và tinh thần hy hữu của ông nhiều hơn gia tài thơ mà ông gửi hậu thế. Nhưng đọc ông, có thể thấy dòng dung nham trong những trang của lịch sử bi tráng đã qua, những bệnh dịch đã và còn hoành hành, vết sẹo bỏng của hạnh phúc ông và bóng trĩu của một thời bồng bột và khắc ngiệt. Và chính vì vậy, Thơ Hữu Loan sẽ không phôi phai trước mọi nóng lạnh đời.

Hoàng Quý

Đèo Cả

Đèo cả - Ảnh sưu tầm
Đèo cả!
Đèo cả!
núi cao ngất
mây trời Ai Lao
sầu đại dương
dặm về heo hút
Đá bia mù sương
Đọc tiếp

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

HÀO PHÓNG THỀM LỤC ĐỊA VÀ LỤC BÁT NGUYỄN THANH MỪNG


Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng
Nguyễn Thanh Mừng còn có các bút danh: Ngư Tiều, Cẩm Tú, Châu Kim.

Ông sinh năm 1960 tại Hoài Ân, Bình Định.
Tác phẩm Thơ : Rượu đắng (Tập thơ), Khởi hành cùng ba mươi chín mùa xuân (Trưởng ca), Ngữ pháp gió (Tập thơ), Ly cà phê đại dương (Tập thơ). Riêng bài thơ "Hào phóng thềm lục địa", Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng đoạt liên tiếp 2 lần Giải A của Quân chủng Hải quân về đề tài biển đảo; và Cuộc thi thơ - truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2008 - 2009.

"Sau nhà thơ Đồng Đức Bốn khoảng hơn 10 năm về trước, tôi lại tìm ra được niềm tin vững chắc, rằng thơ Nguyễn Thanh Mừng hôm nay, là một trong những nhà thơ hiếm hoi của chúng ta, hội đủ khả năng để chuyển tải thành công tâm hồn phong phú và tinh tế của mình đến với đông đảo công chúng yêu thơ, chỉ bằng một bệ phóng giản dị - một bệ phóng chuyên dụng mà hiệu nghiệm, xưa cũ mà hiện đại - đó chính là thể thơ lục bát"
(Bằng Việt)


Hào phóng thềm lục địa

Ảnh sưu tầm
Chúng tôi đã vùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ
Nào yến sào ngọc trai, nào đồi mồi san hô, nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng
Tuy nhiên, hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông
Và câu chữ dâng lên linh hồn những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng
Dường như hãy còn quá mỏng
Dù điều ấy, có thể các anh không quan trọng!
Đọc tiếp

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

THƠ NGUYỄN KHẮC THẠCH

Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch

Ông sinh năm 1948 tại Thừa - Thiên - Huế.
Tác phẩm chính: Dòng sông một bờ. Trước vườn xưa. Nơi ta sẽ về.


"Nguyễn Khắc Thạch là người trầm tư trước cuộc đời, phán xét sự vật đến tận cùng bản chất, anh can đảm "hôn xác chết", tự tin, lặng lẽ đối đầu với chúng. Đứng chênh vênh một chân bên "Dòng sông một bờ", Nguyễn Khắc Thạch rụt rè tường trình lại khá sắc bén và chọn lựa những mới lạ về cõi hiện sinh, chỉ ra những nguyên cớ đang hủy hoại nhân tính làm tan rã các kỷ cương giường mối xã hội... Người ta khổ vì có trí tuệ. Thạch khổ vì biết quá nhiều! Anh gọi nỗi buồn về nhận mặt, bóc trần nó ra cho mọi người thấy. Nhà thơ không ngồi nhấm nháp tận hưởng "thú đau thương" như Lưu Trọng Lư, anh thành khẩn nhìn thẳng vào nỗi buồn để nhận diên chính mình và mọi lẽ quan thiết khác ở đời..."
(Thái Doãn Hiểu) 

Dòng sông một bờ


Ảnh sưu tầm
Có một dòng sông mang tên em
dòng sông anh tự đặt
xin mùa thu chiếc lá làm thuyền
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

THƠ HỮU THỈNH


Nhà thơ Hữu Thỉnh

Người ta viết về ông, về thơ ông bằng rất nhiều sự kính trong và tử tế. Nhưng không ít kẻ viết về ông bằng bịa đặt, hằn học, đểu giả và tị hiềm. Trên cây thánh giá Thi ca và cây thánh giá trường đời, điều này không có gì lạ, và càng không đáng để bận tâm.
Tôi nhớ, năm 1979, ông cùng các nhà thơ: Ngô Văn Phú, Phạm Tiến Duật, Hà Đình Cẩn, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Bùi Vợi, Nguyễn Đình Chiến về Nghĩa Lĩnh thắp hương Giỗ Tổ. Tháng ba âm năm ấy rét đậm. Chúng tôi đốt một đống củi lớn trong sân Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú cho bớt rét. Ông choàng tay ôm một bên là tôi, một bên là Hoàng Hữu. Hình như đêm ấy chúng tôi hát một vài bài hát gì đó, rất tùy hứng, rất ấm cúng. Nguyễn Hữu Nhàn hát rất to, giọng chênh lanh lảnh, rất kinh khủng, rất đáng yêu. Khi biết tôi vừa hoàn thành việc sưu tầm các bài bản đánh trống đồng Mường cổ và phục dựng thành công kịp phục vụ Lễ dâng hương ngày Giỗ Tổ, ông cứ ôm tôi, rồi bảo, về Hà Nội thì ghé chỗ anh.
Năm 1983, ông cùng đoàn nhà văn từ mặt trân Hà Giang về. Lúc ấy, bọn "Giặc đồng chí" vẫn còn chiếm một số cao điểm và chưa để chúng ta yên. Đêm dừng chân ở Việt Trì, chúng tôi nghe các ông đọc thơ. Nhà thơ Hữu Thỉnh đọc "Qua cầu Tràng Hương". Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi vừa khóc vừa đọc bài thơ viết về sự hy sinh của nhà văn Bùi Nguyên Khiết trong một trận đánh lớn ở biên giới. Tất cả chúng tôi lặng đi. Cuộc chiến tranh giữ nước vẫn còn bao mất mát, máu xương và chưa kết thúc.
Tháng Chạp 1983 tôi về Hà Nội. Công trình sưu tấm và phục dựng các bài bản đánh trống đồng cổ đã xong. Người ta không cần tôi nữa. Tôi lêu têu, ở thì Hội Văn nghệ, lương thì Ty Văn hóa Thông tin, rất nhố nhăng. Trong lần về Hà Nội thăm nhạc mẫu tôi ở phố Vân Hồ 3, tôi chui qua bức tường vỡ Khu Mĩ thuật quân đội thăm nhà thơ Hữu Thỉnh ở lụp sụp trong dãy nhà cấp 4. Ông, chà biết bằng cách nào kiếm được một ít củi, một ít thanh giát giường cũ, gãy. Và nhờ đó, một đống lửa nhỏ được đốt lên, ngay trong phòng của ông. Nếu tôi nhớ đúng, thì đêm ấy còn có mấy nhà văn, trong đó có chị Ngô Thị Kim Cúc cùng quây quần sưởi lửa. Rét thấu da thịt, Những ngày tháng ấy đói, thiếu, nên càng rét hơn. Ông bắt tôi đọc một truyện cổ mường in trong Tạp chí Sáng tác mới của Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú mới gửi xuống. Ông bảo, em đọc đi, đọc truyện của mình đi, cho bạn bè anh cùng nghe. Ông giải thích với xung quanh, phải coi đây là một cách viết truyện cổ bằng tư duy và phong vị Hoàng Quý, không hề là chép truyện như cách của Nguyễn Đổng Chi. Và tôi đã đọc "Chàng Sáo nàng Hoa" đêm ấy. Thật lạ, các nhà văn tên tuổi không ai bỏ đi, tất cà đều chăm chú. Khi đoạn vĩ thanh vừa dứt, ông ôm lấy tôi, hay lắm, cách viết rất lạ, rất thơ nữa. Hôm tiễn tôi ngược Việt Trì, ông bảo, hồi còn sống Hoàng Hữu dự báo và nói với anh em sẽ là một nhà thơ. Bây giờ thì anh tin. Hãy đọc thật nhiều, hãy viết đi, đừng chán nản. Có lẽ, tôi bước vào con đường đầy bất trắc và chênh vênh này có thể một phần là sau cái đêm đáng nhớ ấy.
Về Hữu Thỉnh, nếu tôi viết thêm vài lời về Thơ ca ông, sẽ rất buồn cười, và có khi ngô nghê. Mọi cách nhìn về thơ của ông dù cố thống kê cũng khó mà đầy đủ. Với tôi, thì các đánh giá về ông, về thơ của ông vẫn chỉ là những phác thảo, chưa có hồi kết. Ông đã buông bút đâu. Thời gian, vâng, thời gian sẽ định đoạt còn mất giả thật. Thời gian sẽ phán xét tất cả!

Hoàng Quý

Phan Thiết có anh tôi


Chiều biển Phan Thiết - Ảnh sưu tầm
Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ
Đất và trời Phan Thiết có anh tôi
Chính ở đây anh thấy biển lần đầu
Qua cửa hầm
Sau những ngày vượt dốc
Biển thì rộng căn hầm quá chật
Khẽ trở mình cát đổ trắng hai vai

Trong căn hầm mùi thuốc súng mồ hôi
Tim anh đập không sao ghìm lại được
Gió nồng nàn hơi nước
Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi
Đọc tiếp

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

TRƯỜNG CA CUTUDỐP VÀ NAPÔLÊÔNG


Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến tại nước Nga

Tôi thức hai đêm để đọc lại bản đánh máy "Trường ca Cutudốp và Napôlêông" Nguyễn Đình Chiến tặng tôi tháng 8 năm 2001 và so sánh với bản in chính thức trong tập "Nguyễn Đình Chiến, tác phẩm và chân dung văn học" do NXB Hội Nhà văn ấn hành  tháng 1 năm 2015. Rất mừng không có sự khác biệt và sai sót đáng kể do in ấn. Tôi từ lâu những muốn chuyển tới bạn đọc thiên trường ca đặc biệt này của ông. Đặc biệt, vì Trường ca đồng thời là Luận văn tốt nghiệp xuất sắc nhất khi Nguyễn Đình Chiến mãn khóa Trường viết văn mang tên M.Gorki (Nga). Đặc biệt, vì ngay lập tức thiên trường ca đặc sắc này đã được Giáo sư - Dịch giả Marian Cachốp dịch sang tiếng Nga kèm lời nhận xét của Giáo sư - Nhà nghiên cứu văn học nước ngoài Bếch Tachiana: "Chắc chắn phải là người từng trải qua cuộc chiến tranh, phải là người có vốn hiểu biết hết sức phong phú và sâu sắc về lịch sử Nga, văn hóa Nga, tâm hồn Nga, tính cách Nga , anh mới viết được một tráng ca tràn đầy niềm tự hào và xúc động về dân tộc Nga như vậy". Bản dịch "Trường ca Cutudốp và Napôlêông được in và có vị trí trang trọng trong Thư viện văn học Trường viết văn M.Gorki", và trong các thư viện của nước Nga rộng lớn và vĩ đại.

Tháng 8 năm 2001, tôi làm thuê sơn bảo dưỡng bên trong các bồn bể chứa xăng dầu tại Đà Nẵng. Nguyễn Đình Chiến đã vào với tôi, vừa là thăm bạn, vừa là làm một chuyến hành hương phương Nam. Trong mấy đêm ở khách sạn Bạch Đằng bên sông Hàn, Ông đã đọc cho tôi nghe và kí tặng tôi một bản đánh máy trường ca. Ông tâm sự: "Nếu ao ước, mình ao ước sẽ viết được một trường ca nữa, và nó phải là Điện Biên Phủ. Trường Sơn, nước bạn Lào, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Nam và phía Bắc sẽ có những nhà thơ tài năng hơn đã và sẽ viết". Và ông hào hứng, sẽ viết về Điện Biên Phủ, sẽ viết về cuộc trường chinh của những người lính chân trần áo vải, sẽ viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những chỉ huy, những chiến sĩ can trường". và thực sự, những năm sau đó chúng tôi đã lên Điện Biên. Nguyễn Đình chiến đã nhiều lần ngang dọc khắp các ngả đường tiến vào Điện Biên, đã đọc hàng núi tư liệu, đã  gặp Đại tướng Tổng tư lệnh... Chương Tây Bắc, khúc dạo của Trường ca ông ao ước đã hoàn thành. Nhưng, những rủi ro trong đời sống riêng, những đảo lộn trong cuộc sống cùng bệnh tật bất ngờ giết chết ông ngay trong một chiều 30 tết - ngày tận của năm 2014, Định mệnh lấy đi một tài năng tầm cỡ và lãng tử. Định mệnh thật bất công bắt ông phải ngừng lại khi chương thứ 2 của Trường ca Điện Biên Phủ vừa xong phần ý tưởng. Xin chuyển tới bạn đọc "Trường ca Cutudốp và Napôlêông" của cố thi sĩ Nguyễn Đình Chiến. Dẫu với Nguyễn, chỉ trường ca duy nhất này là không dang dở, nhưng, hy vọng quà tặng tuyệt vời của ông không chỉ riêng cho nước Nga, nó là quà tặng cho tất cả những ai luôn luôn tôn quý những chân tài!
Hoàng Quý


   
Nguyễn Đình Chiến

Ảnh sưu tấm
                      
I.

Napôlêông dừng ngựa, nhíu đôi mày
Những tiên lượng thiên tài không nghiệm nữa
Ý Thượng đế hay trò đùa lịch sử
Đã cản đường quân Pháp trước tiền duyên
Lá cờ Người lả tả rụng bao phen
Những chiến mã chồm lên thân đẫm máu
Những dũng tướng dạn dày bao trận đấu
Giờ cúi đầu chờ lệnh đứng tôn nghiêm

Đọc tiếp

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

CHẾ LAN VIÊN - THƠ DI CẢO

Nhà thơ Chế Lan Viên
(1920 - 1989)

Ông tên thật là Phan ngọc Hoan, sinh ngày 20 - 10 - 1920 tại Cam An, Cam Lộ, Quảng Trị.
Bắt đầu sự nghiệp thi ca từ khoảng 12, 13 tuổi, năm 17 tuổi in tập thơ "Điêu tàn" gây chấn động "Như một niềm kinh dị" (Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam). Sự nghiệp thi ca kỳ vĩ Chế Lan Viên gồm ba giai đoạn: Giai đoạn khởi đi  là tác phẩm "Điêu tàn" với bút pháp siêu hình. Giai đoạn từ Tháng Tám vĩ đại năm 1945 đến 1975 ông chia tay siêu hình để làm một nhà thơ sống, viết và hiến dâng cho 2 cuộc kháng chiến giải phóng và giữ nước. Và giai đoạn cuối cùng cũng vô cùng đồ sộ là "Thơ Di cảo". Ông thăng hoa như lửa và sắc nhọn như nước trong mâu thuẫn của cuộc đời và sự nghiệp ông. Ông là nhà thơ lớn nhất của thi đàn Việt thế kỷ XX.
 Cuối thu 2007, tôi được bạn hữu tặng một bản tập (photo từ những trang bản thảo đánh máy) "Di cảo thơ Chế Lan Viên" gồm 485 bài. Từ các nguồn báo chí sau đó được đọc thêm một số bài khác do Phu nhân của ông, Bà Vũ Thị Thường, tập hợp tiếp. Như vậy, có lẽ Thơ Di cảo Chế Lan Viên phải chừng gần 500 bài. Đọc hết 485 bài thơ từ nguồn được tặng của bạn hữu và đọc toàn bộ khối lượng đồ sộ Thơ Chế Lan Viên có trước Di cảo, tôi bị choáng ngợp trước vẻ đẹp phức tạp và đầy trí tuệ của ông. Cũng đã có những kẻ  bất tài muốn được lưu tên bằng thứ thơ bẩn và nhũng trang viết chế giễu ti tiện nhằm vào ông. Thật thảm hại, đáng thương và nực cười. Thế giới Thi ca Chế Lan Viên mãi mãi là "Một niềm kinh dị".
Trân trọng gửi tới Quý độc giả một số bài thơ trong "Di cảo thơ Chế lan Viên"!

Hoàng Quý    


Ai Tôi!

Ảnh sưu tầm
Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi!
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Ông sinh năm 1957. Quê Hà Tây ( nay là Hà Nội).
Tác phẩm chính: Ngôi nhà tuổi 17 (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Những người lính của làng (1996), Thơ Nguyễn Quang Thiều (1997), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Bài ca của những con chim đêm (2000). Ngoài ra, ông đã in 5 tập truyện, 2 tiểu thuyết và một số các tùy bút, bút ký, rất nhiều bài thuộc thể loại báo chí...
Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ tiêu biểu đương đại với bút pháp hiện đại, mới, một giọng điệu rất riêng, đặc trưng Nguyễn Quang Thiều. Ông có thể trình bày bằng thơ ngay cả những điều tưởng chừng khó diễn đạt. Tính ước lệ trong thơ ông luôn luôn chuyển động. Thi ảnh lớp chồng lên lớp mà vẫn khúc triết, sáng rõ và cuốn hút. Ông thoát ra khỏi những tư duy trực quan, duy mỹ mà các nhà thơ cùng thế hệ ông hầu hết chưa thoát ra. Các yếu tố thuộc các bút pháp tượng trưng, siêu thực, ấn tương, kể cả cổ điển, kết hợp trong thơ ông hài hòa đến khó tin. Những bài thơ của ông có cấu trúc vững chãi mà tràn đầy cảm xúc . Câu và ngữ pháp trong nhiều bài thơ của ông được chủ động sắp xếp khác, làm cho câu thơ lạ đi và mới. Nhiều ý kiến cho rằng, thơ Nguyễn Quang Thiều hơi "Tây". Tôi không nghĩ thế. Cấu trúc câu và cách nói chỉ là chiếc áo. Tâm hồn và thi ảnh trong thơ Nguyễn Quang Thiều là nhuần Việt. Sẽ còn nhiều ý kiến khác nhau, nhiều khi trái ngược, thậm chí có bài viết diễu nhại một cách hằn học. Chúng ta bị tư duy tiểu nông cuốn đi, trơn truội, gia trưởng, kiêu ngạo và bảo thủ ngay cả trong quan niệm thi ca. Thơ của hôm nay không thể mãi như hôm qua. Mọi tinh hoa của người đi trước không vì một lẽ gì bị chối bỏ. Nó đã hoàn thành kỷ nguyên của nó. Và như thế, không thể vì nó đã từng rực rỡ, thì, các nhà thơ Kỷ nguyên siêu công nghệ trở thành đối tượng của những quán tính. Họ, mà trong đó tiêu biểu là Nguyễn Quang Thiều đã và đang gieo những mùa vụ mới. Những mùa bội thu tất nhiên không thể chỉ một Nguyễn Quang Thiều. Thế - Hệ - Thơ - Mới đang chuyển động không gì cưỡng lại được và ngày một hùng hậu. Nguyễn Quang Thiều nằm trong những tiên phong, đã và đang vạch lên vòm trời thi ca những con đường mới với những luồng sinh khí mới.

Hoàng Quý   

Bóng tối

Ảnh sưu tầm


Bóng tối nuốt chửng dòng chảy mọi con sông
Tôi sợ hãi bởi ý nghĩ này
Chúng ta mang cảm giác bị xóa mất
khỏi thế gian trong sự lãng quên
Đọc tiếp

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

THƠ TUYẾT NGA

Nhà thơ Tuyết Nga
Tên đầy đủ: Nguyễn Thị Tuyết Nga. Năm sinh, 1960. Quê, Nghệ An
Những tác phẩm của chị: Viết trước tuổi bình minh (thơ - 1992), Ảo giác (thơ - 2002), Hạt dẻ thứ tư (thơ - 2008)

"Khả năng liên tưởng trong thơ Tuyết Nga rất phong phú. Chị có tài gắn kết những nhân vật phong phú rất xa nhau, rất khác biệt nhau, thậm chí nhiều khi đối lập nhau để tạo nên những giá trị độc đáo. Giữa những con chữ trong thơ Tuyết Nga thường có nhiều khoảng trống rộng lớn, nhiều khoảng nghĩ rộng lớn"
Đinh Nam Khương
(Tạp chí sông Hương - số 198 - tháng 8/2009)

Bản nháp
Ảnh sưu tầm
Ánh mắt của đại ngàn vạn tuổi vách đá thâm u ánh lửa cháy rừng
Vòm ngực của cánh đồng vô tận tiếng hú dài hoang lạnh hoàng hôn
Cánh tay những vòng ôm của sóng đáy vực sâu nhòa lẫn những chân trời
Anh
Bản nháp của tình yêu một sớm
Đọc tiếp

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

THƠ PHẠM NGỌC CẢNH

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh
(1934 - 2014)

Ông sinh năm 1934, quê Hà Tĩnh, từng có thời gian lấy bút danh Vũ Ngàn Chi. 13 tuổi(1947) vào Vệ quốc đoàn. Cả hai cuộc chiến lớn ông tham gia bắt đầu từ chú liên lạc, rồi làm diễn viên, hồi ấy gọi là văn công. Ông làm thơ, viết kịch bản , viết thuyết minh... Được giao việc gì ông làm việc nấy, đầy lòng yêu và trách nhiệm.
Nhớ một lần ông cùng các anh: Ngô văn Phú, Hữu Thỉnh, Phạm tiến Duật, Nguyễn Bùi Vợi, Hà Đình Cẩn lên Việt Trì. Khi ấy tôi mới kết thúc việc sưu tầm, phục dựng các bài bản đánh trống đồng cổ từ mường về chừng hai năm, sống rất tự do. Ăn cơm, lĩnh lương thì Hội Văn nghệ. Làm việc thì nửa biên tập, nửa ất ơ cho Phòng Văn nghệ lại thuộc Ty Văn hóa. Đêm nghỉ lại, Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh bảo, anh có bài thơ "Đêm nay mình ngủ cuối Phong Châu", làm lâu rồi, nhưng người ta bảo đọc chơi thì được, chứ in thì ngại. Những ngày tháng ấy rất kỳ quái. Hễ viết viếc gì cũng phải xem có vấn đề vu vơ nào không. Thơ, thơ hay, mà đọc cho nhau nghe thì thào, dè chừng, như đám làm bạc giả. Tôi bảo, để em in. Ông bảo, nó vu cho cậu tuyên truyền làm nản lòng người lính đang đánh nhau với Tàu thì bỏ mẹ. Bài thơ in trên Tạp chí Văn hóa Thông tin Vĩnh Phú, chả thấy ma nào hạch hỏi gì. Mấy cậu công an bên phòng An ninh chính trị giáp hàng kẽm gai hai Ty sang chơi, bảo tôi, số này, bài thơ của Phạm Ngọc Cảnh hay nhất. Người lính đi suốt mấy cuộc chiến giữ nước xin được một đêm, ngủ dưới bóng các Vua Tổ và mơ cái thời Vua còn được dân kính vì biết chia ngọt sẻ bùi với thảo dân, với sĩ tốt thì "ngại có vấn đề " là thế nào. Anh Khanh Trưởng phòng Văn nghệ khi ấy bảo tôi, cậu biên tập cái bài của anh Cảnh được khen quá. Hồi ấy tôi trẻ, còn hăng tiết lắm, được nhời, mũi cứ phập phồng y như mình là tác giả. Sau này, tôi từ Vũng Tàu ra làm thuê sơn bảo dưỡng bồn bể xăng dầu ở Đức Giang, cứ rảnh rỗi thì bon lên Khu tập thể Gỗ cầu Đuống chơi với ông, ông rất chiều. Lên chơi khách khí không ở lại ăn vài chén cơm, ông giận đùng đùng. Ông là người yêu bạn.
Ông đã đi xa, rất xa, đi lặng lẽ vào cõi người hiền. Cõi người hiền chắc chả phải đọc thơ thì thào, chả phải in thơ tù mù. Giờ lần giở lại 12 tập thơ, 3 tập bút ký ông tặng, tôi rất nhớ ông. Nhớ một nhà thơ đọc thơ như lên đồng. Và nhớ hơn, nhớ một tấm lòng, nhớ một con Người!
Hoàng Quý    
  

Đêm nay mình ngủ cuối Phong Châu


Đền Thượng Nghĩa Lĩnh - Ảnh sưu tầm
Thôi đừng hỏi vi sao nữa
đêm nay giấc ngủ mới mơ màng
đừng goị tán lá cọ về che cái tứ
đất quê mà, xin cho thơ lang thang
Đọc tiếp

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Thơ Nguyễn Bình Phương

Nhà văn - Thi sĩ Nguyễn Bình Phương

Sinh 1965. Quê Thái Nguyên. Sự nghiệp văn chương khởi đi năm 21 tuổi (1986).
Sự xuất hiện của Nguyễn Bình Phương trên văn đàn lập tức ấn tượng. Những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương: Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004)... gây tiếng vang, và không ít tranh cãi. Đó thực sự là hạnh phúc cho người sáng tạo.
Còn một Nguyễn Bình Phương thứ hai song hành trong Người Văn, đó là Thơ. Thơ Nguyễn Bình Phương ấn tượng, độc đáo không thua kém văn xuôi. Một bút pháp tài hoa cộng sinh giữa chút ít bán siêu thực, nhiều hơn là tượng trưng. Thi ảnh biến ảo, bất ngờ, những liên tưởng đột ngột, khoảng không cận siêu thực được kéo gần tưởng có thể nắm lấy, nhẹ nhõm, mỏng mảnh và mơ hồ, những khoảng lặng âm vang, một ma lực quyến rũ, một khoảng mênh mang cả trên và dưới chữ cho tưởng tượng. Hiện thực huyền ảo không chỉ riêng trong văn xuôi, nó còn uyên ảo và lóa sáng trong thơ Nguyễn Bình Phương.

Hoàng Quý     


Đêm ngà ngà
         (Từ nhà Trung Trung Đỉnh về)

Ảnh sưu tầm
Nhìn thật kỹ hàng cây thành đỏ
Màu đỏ giăng trập trùng ngang trời

Sáng trong bóng tối
Một đôi mắt mèo
Một ngày không ai
Con đường vắng hồn hoa đi lảo đảo
Đọc tiếp